
Dầu ô liu: Công dụng, tác dụng phụ, tương tác, tiều lượng và cảnh báo
Dầu ô liu: Công dụng, tác dụng phụ, tương tác, tiều lượng và cảnh báo

Dầu ô liu là thành phần chính của chế độ ăn Địa Trung Hải, nó rất giàu chất chống oxy hóa. Chất béo chính trong dầu ô liu là acid béo không bão hòa đơn (MUFA). Các chất chống oxy hóa trong dầu ô liu có thể giúp bảo vệ cơ thể khỏi tổn thương tế bào – là yếu tố có thể dẫn đến một loạt các tình trạng sức khỏe và bệnh tật
1. Dầu ô liu là gì
Ô liu là một loại cây trồng truyền thống của khu vực Địa Trung Hải. Người ta làm dầu ô liu bằng cách ép toàn bộ trái ô liu. Dầu ô liu được sử dụng phổ biến nhất cho những người mắc bệnh tim, cholesterol cao và huyết áp cao.
Dầu ô liu được sử dụng trong nấu ăn, mỹ phẩm, thuốc, xà phòng và làm nhiên liệu cho đèn truyền thống. Dầu ô liu ban đầu đến từ Địa Trung Hải, cho đến nay nó phổ biến trên toàn thế giới.
Trong thực phẩm, dầu ô liu được sử dụng làm dầu ăn và dầu trộn salad. Dầu ăn ô liu được phân loại theo hàm lượng acid oleic tự do. Dầu ô liu Extra virgin chứa tối đa 1% acid oleic tự do, dầu ô liu nguyên chất chứa 2% và dầu ô liu thông thường chứa 3,3%. Dầu ô liu chưa tinh chế sẽ có tỷ lệ acid oleic tự do cao hơn 3,3%, được coi là “không phù hợp cho con người”.
2. Sự hoạt động của dầu ô liu
Các acid béo trong dầu ô liu dường như làm giảm mức cholesterol và có tác dụng chống viêm. Hơn nữa, lá ô liu và dầu ô liu còn có thể làm giảm huyết áp. Dầu ô liu cũng có thể tiêu diệt vi trùng, chẳng hạn như vi khuẩn và nấm.
3. Công dụng và hiệu quả của dầu ô liu
Dầu ô liu dùng để làm gì và nó có thực sự hiệu quả như những gì mong đợi không?
3.1. Dầu ô liu có thể hiệu quả
- Ung thư vú;. Phụ nữ sử dụng nhiều dầu ô liu trong chế độ ăn hàng ngày dường như có nguy cơ mắc ung thư vú thấp hơn so với những người không sử dụng.
- Bệnh tim. Những sử dụng dầu ô liu trong chế độ ăn hàng ngày dường như có nguy cơ mắc bệnh tim cũng như nguy cơ đau tim thấp hơn so với những người sử dụng loại dầu khác. Hơn nữa, sử dụng dầu ô liu còn giúp giảm cholesterol. Bởi vì, cholesterol cao và huyết áp cao là yếu tố nguy cơ của bệnh tim. Một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng khi tuân theo chế độ ăn kiêng bao gồm dầu ô liu cũng làm giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ và tử vong liên quan đến bệnh tim so với tuân theo chế độ ăn kiêng tương tự bao gồm ít hoặc không có dầu ô liu.
- Táo bón. Uống dầu ô liu bằng đường uống có thể giúp làm mềm phân ở những người bị táo bón.
- Bệnh tiểu đường. Những người ăn lượng dầu ô liu cao hơn (khoảng 15-20 gam mỗi ngày) dường như có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thấp hơn so với những người không sử dụng loại dầu này. Tuy nhiên, nếu ăn nhiều hơn 20 gam mỗi ngày sẽ không tăng lợi ích cho sức khỏe. Nghiên cứu gần đây cho thấy dầu ô liu có thể cải thiện kiểm soát lượng đường trong máu ở những người mắc bệnh tiểu đường. Dầu ô liu trong chế độ ăn Địa Trung Hải cũng có thể làm giảm nguy cơ “xơ cứng động mạch” (xơ vữa động mạch) ở bệnh nhân tiểu đường so với những loại dầu không bão hòa đa như: dầu hướng dương.
- Cholesterol cao. Sử dụng dầu ô liu trong chế độ ăn thay vì chất béo bão hòa có thể làm giảm mức cholesterol toàn phần ở những người bị cholesterol cao. Tuy nhiên, với một số loại dầu ăn kiêng khác cũng có thể giúp làm giảm cholesterol toàn phần tốt hơn dầu ô liu.
- Huyết áp cao. Thêm một lượng lớn dầu ô liu nguyên chất vào chế độ ăn uống cùng với việc tiếp tục thực hiện các phương pháp điều trị thông thường cho huyết áp cao có thể cải thiện tình trạng huyết áp ở những người bị huyết áp cao trong khoảng thời gian là 6 tháng.
Trong một số trường hợp, những người bị huyết áp cao nhẹ đến trung bình mà sử dụng dầu ô liu, có thể giảm liều thuốc huyết áp hoặc thậm chí ngừng dùng thuốc hoàn toàn. Tuy nhiên, bạn không nên tự ý điều chỉnh thuốc của mà chưa có sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
3.2. Dầu ô liu có thể không hiệu quả
- Ráy tai; Thoa dầu ô liu lên da dường như không thể làm mềm ráy tai.
- Nhiễm trùng tai (viêm tai giữa). Thoa dầu ô liu lên da dường như không làm giảm đau ở trẻ bị viêm tai giữa.
3.3. Tác dụng của dầu ô liu chưa có bằng chứng đầy đủ
- Bệnh chàm (viêm da dị ứng). Nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng áp dụng hỗn hợp mật ong, sáp ong và dầu ô liu cùng với chăm sóc tiêu chuẩn dường như cải thiện được bệnh chàm.
- Ung thư; Những người sử dụng nhiều dầu ô liu dường như có nguy cơ mắc ung thư thấp hơn.
- Rò rỉ dịch của cơ thể (nhũ trấp) vào khoảng trống giữa phổi và thành ngực. Đôi khi, nhũ trấp rò rỉ vào khoảng trống giữa phổi và thành ngực trong quá trình phẫu thuật thực quản. Cho nên, uống khoảng nửa cốc dầu ô liu tám giờ trước khi phẫu thuật có thể giúp ngăn ngừa chấn thương này.
- Khả năng ghi nhớ và tư duy (chức năng nhận thức). Phụ nữ trung niên sử dụng dầu ô liu để nấu ăn dường như đã cải thiện khả năng ghi nhớ và tư duy so với những người sử dụng các loại dầu khác.
- Ung thư đại tràng, ung thư trực tràng. Một vài nghiên cứu cho thấy những người tiêu thụ nhiều dầu ô liu trong chế độ ăn có thể có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng thấp hơn so với những người không ăn.
- Nhiễm trùng đường tiêu hóa có thể dẫn đến loét (Helicobacter pylori hoặc H. pylori). Nghiên cứu ban đầu cho thấy dùng 30 gam dầu ô liu trước khi ăn sáng trong 2 – 4 tuần sẽ giúp loại bỏ nhiễm trùng Helicobacter pylori ở một số người.

- Hội chứng chuyển hóa bao gồm huyết áp cao, mỡ cơ thể dư thừa hoặc lượng đường trong máu cao có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ hoặc bệnh tiểu đường. Bổ sung chiết xuất lá ô liu dường như giúp kiểm soát lượng đường trong máu ở nam giới. Tuy nhiên, nó dường như không có tác dụng làm giảm trọng lượng cơ thể, mức cholesterol hoặc huyết áp.
- Tích tụ chất béo trong gan ở những người mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD). Bổ sung dầu ô liu vào chế độ ăn ít calo có thể cải thiện gan nhiễm mỡ tốt hơn so với chế độ đơn lẻ của bệnh nhân NAFLD.
- Viêm xương khớp; Nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng sử dụng chiết xuất nước đông lạnh của quả ô liu hoặc một chiết xuất của lá ô liu làm giảm đau và tăng khả năng vận động ở những người bị viêm xương khớp.
- Loãng xương. Uống chiết xuất lá ô liu hàng ngày cùng với canxi có thể làm chậm quá trình mất xương ở phụ nữ mãn kinh với mật độ xương thấp.































